Tổ tiên của cá voi là những con thú bốn chân sống trên cạn, họ hàng xa của hà mã ngày nay, đã dần quay xuống nước suốt hàng triệu năm. Bằng chứng đến từ bốn phía độc lập: một chuỗi hoá thạch có chân mỗi lúc một nhỏ đi, một chiếc xương mắt cá chân rất đặc trưng, so sánh ADN, và những dấu vết chân sau còn sót trong cơ thể cá voi hiện đại.
Chào bạn, đây là Nhà Sinh Học. Dọc bờ biển miền Trung và miền Nam, ngư dân gọi cá voi là cá Ông và lập lăng thờ, có nơi còn giữ những bộ xương khổng lồ. Đứng dưới bộ xương ấy, bạn đang nhìn một trong những câu chuyện tiến hoá ngoạn mục nhất.
Cá voi là thú, không phải cá
Dù sống hoàn toàn dưới nước, cá voi thở bằng phổi và phải ngoi lên mặt nước để thở. Chúng là động vật máu nóng, đẻ con, nuôi con bằng sữa. Thai cá voi còn có lông tơ ở một giai đoạn. Đó là những dấu hiệu của động vật có vú.
Một chi tiết ít người để ý: cá bơi bằng cách quẫy đuôi sang hai bên, còn cá voi và cá heo quẫy đuôi lên xuống. Kiểu uốn cột sống lên xuống ấy chính là cách những con thú bốn chân như chó, ngựa uốn lưng khi phi nước đại.
Vây ngực của cá voi bên trong có đủ xương cánh tay, xương cẳng tay và xương ngón như bàn tay người, chỉ được bọc lại thành mái chèo.
Những chi tiết này gợi ý cá voi không phải cá đã trở nên giống thú, mà là thú đã trở nên giống cá.
Chuỗi hoá thạch từ cạn xuống biển
Từ những năm tám mươi và chín mươi của thế kỷ trước, các nhà cổ sinh vật tìm thấy ở vùng Nam Á, đặc biệt ở Pakistan và Ấn Độ, hàng loạt hoá thạch lấp đầy khoảng trống này. Chúng có tuổi khoảng năm mươi triệu năm trở lại.
Những loài sớm nhất trông như một con thú cỡ con chó, bốn chân, sống ven sông, nhưng có cấu trúc tai trong đặc trưng chỉ thấy ở cá voi. Muộn hơn một chút là những loài giống cá sấu thú, chân to có màng, vừa đi được trên cạn vừa bơi giỏi.
Tiếp theo là những loài chân ngắn hơn, sống chủ yếu dưới nước. Rồi tới những con cá voi cổ thân dài ngoằng hoàn toàn sống ở biển, vẫn còn đôi chân sau bé xíu, quá nhỏ để đi, có lẽ chỉ còn tác dụng phụ trợ.
Xếp theo tuổi lớp đá, chuỗi hoá thạch này cho thấy chân thu nhỏ dần, lỗ mũi lùi dần lên đỉnh đầu, cơ thể thích nghi dần với nước. Đúng thứ tự mà lý thuyết dự đoán.
Chiếc xương mắt cá chân và họ hàng hà mã
Trong nhóm thú móng guốc chẵn như lợn, bò, hươu, hà mã, có một xương ở mắt cá chân hình ròng rọc kép rất đặc trưng. Các hoá thạch cá voi cổ còn chân sau đều mang đúng chiếc xương ấy. Đây là chữ ký cho thấy cá voi thuộc về nhóm móng guốc chẵn.
So sánh ADN từ cuối thế kỷ hai mươi cho kết quả còn bất ngờ hơn: trong các loài còn sống, họ hàng gần nhất của cá voi là hà mã. Hai nhánh có chung tổ tiên, rồi một nhánh xuống biển, một nhánh ở lại sông hồ.
Điều thuyết phục ở đây là hoá thạch và ADN là hai nguồn bằng chứng hoàn toàn độc lập, do những nhóm nghiên cứu khác nhau tìm ra bằng phương pháp khác nhau, nhưng cùng chỉ về một hướng.
Hà mã ngày nay vẫn dành phần lớn thời gian ngâm mình trong nước, giao tiếp được dưới nước. Nhìn chúng, bạn có thể hình dung phần nào những bước đầu tiên của tổ tiên cá voi.
Dấu vết chân sau trong cá voi ngày nay
Cá voi hiện đại không có chân sau nhìn thấy được, nhưng nhiều loài vẫn giữ một đôi xương nhỏ lơ lửng trong cơ, ở vị trí của xương chậu. Một số nghiên cứu cho thấy đôi xương này vẫn có vai trò làm chỗ bám cho cơ quan sinh sản, tức là tiến hoá đã dùng lại nó cho việc khác.
Phôi cá heo ở giai đoạn sớm mọc ra những mầm chân sau, giống phôi của các loài thú bốn chân. Sau đó mầm ấy tiêu biến đi khi phôi phát triển tiếp.
Thỉnh thoảng có báo cáo về cá thể cá heo hay cá voi sinh ra với một đôi vây nhỏ thừa ở vị trí chân sau. Những trường hợp hiếm này được giải thích là chương trình phát triển cũ tạm thời bật lại.
Một con vật không có lý do gì mang xương chậu nếu không phải vì tổ tiên nó từng có hông và chân.
Cá Ông trong văn hoá biển Việt Nam
Với ngư dân ven biển từ miền Trung vào Nam, cá voi là cá Ông, vị thần cứu người gặp nạn trên biển. Khi cá voi chết dạt vào bờ, làng tổ chức tang lễ, chôn cất, sau vài năm cải táng và đưa xương vào lăng thờ.
Nhờ tục lệ ấy, một số lăng ông ven biển còn giữ những bộ xương cá voi lớn qua nhiều đời, trở thành di sản văn hoá đồng thời là mẫu vật quý cho những ai muốn nhìn tận mắt cấu trúc xương cá voi.
Cá voi và cá heo ở vùng biển Việt Nam cần được bảo vệ. Nếu bắt gặp cá voi mắc cạn hay mắc lưới, cách đúng là báo ngay cho chính quyền địa phương và cơ quan quản lý thuỷ sản để được hướng dẫn cứu hộ.
Lần tới có dịp ghé một lăng thờ cá Ông, bạn thử tìm vây ngực của bộ xương và đếm các đốt ngón bên trong. Bạn đang nhìn một bàn tay đã quay về biển.
Câu hỏi thường gặp
Cá heo có phải cá voi không?
Cá heo thuộc cùng bộ với cá voi, cụ thể là nhóm cá voi có răng. Nói cách khác, mọi cá heo đều là họ hàng gần của cá voi, chỉ nhỏ hơn.
Vì sao cá voi phun nước lên trời?
Thứ cá voi phun ra chủ yếu là hơi thở ấm và ẩm từ phổi, gặp không khí lạnh hơn ngưng thành sương, kèm một ít nước đọng quanh lỗ thở. Lỗ thở là lỗ mũi đã dịch lên đỉnh đầu qua tiến hoá.
Cá voi có thể ở dưới nước bao lâu?
Tuỳ loài. Nhiều loài lặn vài phút tới vài chục phút, một số loài cá voi lặn sâu có thể ở dưới nước hơn một giờ nhờ máu và cơ chứa nhiều ôxy.
Ngoài cá voi còn loài thú nào quay về nước không?
Có. Bò biển, hải cẩu, sư tử biển, rái cá đều là thú có tổ tiên trên cạn, mỗi nhóm quay về nước theo con đường riêng và ở những mức độ khác nhau.
Ở Việt Nam có thể thấy cá voi ở đâu?
Cá voi và cá heo thỉnh thoảng được ghi nhận ở một số vùng biển miền Trung và quanh các đảo. Hãy quan sát từ xa, không đuổi theo bằng tàu và không cho ăn.