Loài chủ chốt là loài có ảnh hưởng tới hệ sinh thái lớn hơn rất nhiều so với số lượng của nó, giống viên đá đỉnh vòm giữ cho cả vòm cầu khỏi sụp. Rút nó ra, cả hệ đổi khác: sao biển giữ cho bãi đá ven biển đa dạng, rái cá biển giữ cho rừng tảo bẹ dưới nước khỏi bị nhím biển ăn trụi, và ở rừng nhiệt đới, những cây sung, cây đa ra quả quanh năm nuôi chim thú qua mùa khan hiếm.
Chào bạn, đây là Nhà Sinh Học. Không phải loài nào cũng có vai trò ngang nhau trong lưới thức ăn. Tập này mình kể về những loài mà sự vắng mặt của chúng làm cả hệ sinh thái lung lay.
Thí nghiệm nhổ sao biển
Giữa những năm sáu mươi của thế kỷ trước, nhà sinh thái học Mỹ Robert Paine làm một thí nghiệm đơn giản trên bãi đá ven biển phía tây bắc nước Mỹ. Ở một đoạn bãi, ông đều đặn nhặt bỏ hết sao biển ăn thịt, ném trở lại biển. Đoạn bên cạnh để nguyên làm đối chứng.
Sao biển ăn chủ yếu là vẹm. Khi không còn sao biển, vẹm sinh sôi, phủ kín mặt đá, chèn ép hàng chục loài khác như hà, ốc, tảo. Sau vài năm, đoạn bãi không sao biển nghèo loài đi rõ rệt so với đoạn đối chứng.
Paine đặt ra cụm từ loài chủ chốt để gọi những loài như sao biển ở đây: ít về số lượng nhưng giữ cho cả cộng đồng đa dạng nhờ kiềm chế một loài có khả năng lấn át mọi loài khác.
Thí nghiệm này nổi tiếng vì nó chứng minh bằng thực nghiệm thứ trước đó chỉ là suy đoán, và nó cho thấy ăn thịt có thể là một lực bảo vệ đa dạng.
Rái cá biển, nhím biển và rừng tảo bẹ
Ở vùng biển lạnh ven bờ Bắc Thái Bình Dương có những rừng tảo bẹ cao như cây, là nơi ở và chỗ đẻ của rất nhiều loài cá. Nhím biển thích ăn tảo bẹ. Còn rái cá biển thì thích ăn nhím biển.
Khi rái cá biển bị săn bắt gần như tuyệt diệt để lấy lông vào những thế kỷ trước, nhím biển bùng nổ, gặm trụi gốc tảo, biến nhiều rừng tảo thành những bãi đá trống mà các nhà khoa học gọi là hoang mạc nhím biển.
Ở những nơi rái cá được bảo vệ và quay trở lại, nhím biển giảm, rừng tảo hồi phục, cá trở về. Chuỗi tác động từ kẻ săn mồi xuống con mồi rồi xuống thực vật như vậy gọi là hiệu ứng thác dinh dưỡng.
Rái cá trong ảnh của tập này là họ hàng nước ngọt. Việt Nam cũng có vài loài rái cá sống ở sông suối, rừng ngập mặn, đều là những loài đang bị đe doạ và được pháp luật bảo vệ.
Sói trở lại Yellowstone: câu chuyện đẹp và những tranh luận
Năm một nghìn chín trăm chín mươi lăm, sói xám được thả lại vào vườn quốc gia Yellowstone ở Mỹ sau khoảng bảy mươi năm vắng bóng. Câu chuyện thường được kể rằng sói làm nai sừng tấm bớt gặm cây ven suối, cây liễu mọc lại, hải ly quay về, dòng suối đổi dáng.
Câu chuyện ấy rất đẹp và lan rộng trên mạng. Nhưng các nghiên cứu sau đó cho thấy bức tranh phức tạp hơn: số nai giảm còn do thời tiết, do người săn bắn, do gấu và báo sư tử. Mức độ cây ven suối hồi phục khác nhau nhiều giữa các nơi.
Nhiều nhà sinh thái học đồng ý rằng sói có tác động, nhưng không phải phép màu một mình nó làm thay đổi tất cả. Đây là ví dụ hay về việc một câu chuyện khoa học bị đơn giản hoá khi lan truyền.
Bài học là hệ sinh thái thật có nhiều nguyên nhân chồng lên nhau. Khi nghe một câu chuyện quá gọn gàng, bạn nên hỏi thêm: còn yếu tố nào khác không?
Cây sung, cây đa: loài chủ chốt của rừng nhiệt đới
Ở rừng nhiệt đới, phần lớn cây ra hoa kết trái theo mùa. Có những tháng rừng gần như không có quả. Các loài thuộc chi sung, như sung, đa, si, lại có những cây ra quả rải rác quanh năm, nhờ mối quan hệ với ong sung mà mình đã kể ở tập về đồng tiến hoá.
Vì vậy trong mùa khan hiếm, quả sung trở thành nguồn thức ăn cứu đói cho rất nhiều loài chim, khỉ, sóc, dơi. Nhiều nhà sinh thái học coi các loài sung là nguồn tài nguyên chủ chốt của rừng nhiệt đới châu Á.
Chặt hết cây sung trong một khu rừng có thể làm nhiều loài chim ăn quả suy giảm. Mà chim ăn quả lại là người gieo hạt cho rất nhiều loài cây khác. Tác động lan rộng hơn nhiều so với vài cây bị chặt.
Trong văn hoá làng Việt, cây đa đầu làng, cây si sân đình thường được giữ gìn qua nhiều đời. Về mặt sinh thái, đó cũng là những trạm tiếp tế cho chim chóc giữa đồng.
Loài kỹ sư và chuyện bảo tồn có trọng tâm
Gần với khái niệm loài chủ chốt là loài kỹ sư hệ sinh thái: loài tự tay đổi cảnh quan. Hải ly đắp đập tạo ao hồ. Voi rừng mở lối đi, quật cây, đào nước trong mùa khô cho các loài khác uống. Mối đắp tổ làm đất tơi, giữ ẩm.
Hiểu loài nào là chủ chốt giúp các nhà bảo tồn chọn trọng tâm khi nguồn lực có hạn. Bảo vệ một loài chủ chốt thường là bảo vệ được cả chục loài phụ thuộc vào nó.
Nhưng xác định loài chủ chốt không dễ. Nhiều khi chỉ khi một loài biến mất người ta mới nhận ra vai trò của nó, và khi ấy thường đã muộn.
Lần tới đi ngang một cây đa già đang chín quả, bạn thử đứng lại năm phút đếm xem có bao nhiêu loài chim ghé ăn. Bạn đang nhìn một trạm tiếp tế mà cả khu vực phụ thuộc vào.
Câu hỏi thường gặp
Loài chủ chốt có phải là loài quý hiếm nhất không?
Không nhất thiết. Loài chủ chốt được xác định theo mức ảnh hưởng tới hệ sinh thái, không theo độ hiếm. Một loài khá phổ biến vẫn có thể là chủ chốt.
Ong có phải là loài chủ chốt không?
Ở nhiều hệ sinh thái, các loài ong thụ phấn có vai trò rất lớn, nhiều nhà khoa học coi chúng là nhóm chủ chốt. Mất ong, nhiều loài cây không kết hạt được.
Vì sao gọi là hiệu ứng thác dinh dưỡng?
Vì tác động chảy từ bậc trên xuống bậc dưới như nước chảy qua các bậc thác: kẻ săn mồi ảnh hưởng con mồi, con mồi ảnh hưởng thực vật, thực vật ảnh hưởng cả cảnh quan.
Việt Nam có loài nào được coi là loài chủ chốt không?
Các nhà sinh thái học thường nhắc tới các loài sung, đa trong rừng, các loài thú săn mồi lớn, và ở vùng ven biển là những loài cây ngập mặn tạo nên cả hệ sinh thái. Việc xác định cụ thể cần nghiên cứu từng nơi.
Một người bình thường có thể bảo vệ loài chủ chốt thế nào?
Không mua bán động vật hoang dã, không chặt cây cổ thụ, ủng hộ các khu bảo tồn và tìm hiểu về thiên nhiên nơi mình sống. Những việc nhỏ cộng lại tạo nên áp lực lớn.